Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 37

Đề tài: Học tiếng Nga (92 bài )
 
30.06.2012, 10:10
In bài Gửi mail cho bạn Bổ sung vào blog
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 37 Tải về

Photo: RIA Novosti
Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Chúng ta tiếp tục cuộc làm quen chi tiết với các cách trong tiêng Nga. Chủ đề của bài hôm nay là tạo cách – cách 5.
Tania, chiều nay chị sẽ làm gì ?
СЕГОДНЯ ВЕЧЕРОМ Я ПОЙДУ В ТЕАТР. Chiều hôm nay tôi sẽ đi nhà hát.
Ồ hay quá. Chị đi với ai vậy?
С МОЕЙ ПОДРУГОЙ ИРОЙ. (Đi) Với Ira bạn gái của tôi.
Chị thích nhà hát chứ, Tania?
ОЧЕНЬ ЛЮБЛЮ. Я ВОСХИЩАЮСЬ АКТЕРАМИ. В ДЕТСТВЕ Я ХОТЕЛА СТАТЬ АКТРИСОЙ, НО СТАЛА ДИКТОРОМ. (Tôi) Rất thích. Tôi ngưỡng mộ các diễn viên. Thuở nhỏ (thời thơ ấu, hồi bé) tôi đã muốn thành nghệ sĩ, nhưng rồi tôi đã thành phát thanh viên.
Trong đọan đối thoại của chúng tôi có các danh từ ПОДРУГОЙ, ИРОЙ, АКТЕРАМИ, АКТРИСОЙ và ДИКТОРОМ đứng ở cách 5.
Tạo cách-cách 5 trả lời cho câu hỏi кем? чем? Và dùng với những động từ như БЫТЬ - có, СТАНОВИТЬСЯ – trở thành, РАБОТАТЬ – làm việc, РУКОВОДИТЬ – lãnh đạo, ПОЛЬЗОВАТЬСЯ – sử dụng, УВЛЕКАТЬСЯ – ham mê, ВОСХИЩАТЬСЯ – khâm phục, ngưỡng mộ.
Cách 5 còn được gọi là công cụ cách, vì rằng trong những mệnh đề của cách này chỉ ra công cụ hành động.
Tania, chị thích món phở không?
ОЧЕНЬ ЛЮБЛЮ.
Thế chị ăn phở bằng gì?
Я ЕМ СУП ФО ПАЛОЧКАМИ И ЛОЖКОЙ. Tôi ăn phở bằng đũa và thìa.
Từ ПАЛОЧКАМИ và ЛОЖКОЙ đứng ở cách 5.
Các danh từ cũng như đại từ và tính từ liên quan, trong cách 5 phối hợp với các giới từ-liên từ С, НАД, ПОД, ЗА, ПЕРЕД và МЕЖДУ.
ЗУНГ ЛЮБИТ МЯСО С РИСОМ. Dũng thích ăn cơm với thịt.
ВЫСОКО НАД ПОЛЕМ ЛЕТЕЛ САМОЛЕТ. Máy bay bay cao phía trên cánh đồng.
МЯЧ ЛЕЖИТ ПОД КРОВАТЬЮ. Quả bóng nằm dưới gầm giường.
СТУДЕНТЫ ПЕРЕД ЛЕКЦИЕЙ ВЫХОДЯТ НА УЛИЦУ ПОКУРИТЬ. Trước giờ học các sinh viên ra sân hút thuốc.
МЕЖДУ ВЬЕТНАМОМ И РОССИЕЙ - КРЕПКАЯ ДРУЖБА. (Giữa) Việt Nam và Nga có tình hữu nghị bền chặt.
Danh từ giống đực và giống trung trong cách 5 có đuôi là –ОМ và -ЕМ.
РИС - РИСОМ,МУЗЕЙ МУЗЕЕМ.
Đó là vài danh từ giống đực
СЛОВО – СЛОВОМ. ПОЛЕ -ПОЛЕМ.
Còn đó là vài danh từ giống trung.
Danh từ giống cái có đuôi –А và –Я khi sang cách 5 sẽ đổi thành đuôi –ОЙ hoặc -ЕЙ. Thí dụ:
Я ХОТЕЛА СТАТЬ АКТРИСОЙ. ЗА ДЕРЕВНЕЙ ПРОТЕКАЕТ РЕКА. Tôi đã từng muốn trở thành nghệ sĩ. Dòng sông chảy phía sau làng.
АКТРИСА – АКТРИСОЙ, ДЕРЕВНЯ – ДЕРЕВНЕЙ.
Còn danh từ giống cái với đuôi là phụ âm mềm thì sang cách 5 sẽ kết thúc bằng đuôi – Ю.
РОССИЯ БОГАТА НЕФТЬЮ. Nước Nga giàu dầu mỏ.
НЕФТЬ – НЕФТЬЮ.
Trong số nhiều ở cách 5 tất cả các danh từ đều có đuôi là –АМИ hoặc là –ЯМИ.
СТУДЕНТЫ – СТУДЕНТАМИ. АКТРИСЫ - АКТРИСАМИ. СЛОВА – СЛОВАМИ.
МУЗЕЙ – МУЗЕЯМИ.ДЕРЕВНЯ – ДЕРЕВНЯМИ. ПЛАТЬЕ – ПЛАТЬЯМИ.
Đại từ nhân xưng trong trường hợp cách 5 sẽ thay đổi như sau:
Я – МНОЙ.
ИДИ ЗА МНОЙ! Đi theo tôi!
ТЫ – ТОБОЙ.
Я ИДУ ЗА ТОБОЙ. Tôi đi theo bạn.
ОН, ОНО – ИМ.
Khi sử dụng với giới từ, đại từ ИМ có dạng là НИМ.
ТЫ ПОЙДЕШЬ С НИМ. Cậu sẽ đi với anh ấy.
ОНА – ЕЙ hoặc ЕЮ.
Đại từ cách 5 này khi sử dụng với giới từ cũng thêm âm Н.
Я ПОЙДУ С НЕЙ. Tôi sẽ đi với cô ấy.
МЫ – НАМИ. ПОЙДЕМ С НАМИ В КИНО! Hãy đi xem phim với chúng tôi!
ВЫ – ВАМИ. МЫ ПОЙДЕМ В ТЕАТР С ВАМИ. Chúng tôi sẽ đi nhà hát cùng các bạn.
ОНИ – ИМИ.
Trong cách 5 khi dùng giới từ thì cả đại từ này cũng thêm vào âm H.
Я ОЧЕНЬ ЛЮБЛЮ ИГРАТЬ С НИМИ. Tôi rất thích chơi cùng với chúng nó.
Các bạn thân mến, để luyện tập, hãy  đặt ra những đoạn hội thoại hoặc chuyện kể ngắn về bản thân và các bạn bè có sử dụng danh từ và đại từ trong cách 5.
Xin chúc các bạn thành công.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 38

Đề tài: Học tiếng Nga (92 bài )
 
21.07.2012, 15:54
In bài Gửi mail cho bạn Bổ sung vào blog
студент первокурсник студенческий билет МГУ Tải về

Photo: RIA Novosti
Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
                                                        ***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng tôi giới thiệu với các bạn cách cuối cùng của tiếng Nga – cách 6. Cách này còn gọi là Giới cách, vì rằng khác với những cách khác, trong mệnh đề ở cách 6 thì các danh từ, tính từ và đại từ được sử dụng chỉ với giới từ. Những giới từ phổ biến nhất của cách 6 là –В, НА và О.
АНТОН, ПРИВЕТ! ДАВНО ТЕБЯ НЕ ВИДЕЛ! ГДЕ ТЫ БЫЛ? – ПРИВЕТ, ТУНГ! Я БЫЛ В ПЕТЕРБУРГЕ. – ТЫ ЛЕТАЛ ТУДА НА САМОЛЕТЕ ИЛИ ЕЗДИЛ НА ПОЕЗДЕ? – ЕЗДИЛ НА ПОЕЗДЕ. – Я ТОЖЕ ХОЧУ ПОБЫВАТЬ В ПЕТЕРБУРГЕ. Я МНОГО О НЕМ СЛЫШАЛ И ЧИТАЛ.
Anton, chào cậu! Lâu không thấy cậu đấy. Cậu đã ở đâu vậy? – Chào Tùng. Tớ đã ở Peterburg. – Cậu bay tới đó bằng máy bay hay là đi tàu hỏa? – Tớ đi tàu hỏa. – Tớ cũng muốn đến Peterburg. Tớ đã đọc và nghe nói nhiều về (nó) thành phố này.
Trong mệnh đề có các danh từ В ПЕТЕРБУРГЕ, НА САМОЛЕТЕ, НА ПОЕЗДЕ và đại từ О НЕМ đứng trong câu cách 6. Cách 6-giới cách trả lời cho câu hỏi где?ở đâu?
ЭТО МОЙ ДРУГ ИВАН. ОН ИЗ СИБИРИ. СЕЙЧАС ИВАН УЧИТСЯ В МОСКОВСКОМ УНИВЕРСИТЕТЕ И ЖИВЕТ В ОБЩЕЖИТИИ. МЫ ПОЗНАКОМИЛИСЬ НА ЛЕКЦИИ ПО РУССКОЙ ЛИТЕРАТУРЕ. Đây là Ivan bạn trai của tôi. Anh ấy (đến) từ Siberia. Bây giờ Ivan đang học ở Đại học Tổng hợp Matxcơva và sống trong ký túc xá. Chúng tôi đã làm quen (với nhau) trong giờ văn học Nga.
Где? - В МОСКОВСКОМ УНИВЕРСИТЕТЕ, В ОБЩЕЖИТИИ, НА ЛЕКЦИИ.
Cần dùng câu ở cách 6 khi ta nói về phương tiện di chuyển đi lại.
НА САМОЛЕТЕ, НА ПОЕЗДЕ, НА АВТОБУСЕ, НА МАШИНЕ, НА МОТОЦИКЛЕ đi (trên) máy bay, đi tàu hỏa, đi ô tô buýt, đi xe hơi, đi xe máy. Mệnh đề cách 6 còn trả lời cho câu hỏi очем? оком? về cái gì? về ai?
СЕРГЕЙ, ЧТО ТЫ ЧИТАЕШЬ? – ОЧЕНЬ ИНТЕРЕСНУЮ КНИГУ О КОСМОСЕ. Sergei, cậu đọc gì thế? – (Đọc) cuốn sách rất thú vị về vũ trụ.
О ЧЕМ ЗАДУМАЛАСЬ, НИНА? – ОБ ЭКЗАМЕНЕ ПО ИНФОРМАТИКЕ, ОН ОЧЕНЬ СЛОЖНЫЙ. Nghĩ ngợi về điều gì vậy, Nina? – Về môn thi Tin học, rất khó (phức tạp).
Xin các bạn lưu ý, khi danh từ bắt đầu với nguyên âm hữu thanh, thì giứoi từ О có hình thức là ОБ. Thí dụ:
О ЛЕКЦИИ – ОБ ЭКЗАМЕНЕ. О ШКОЛЕ – ОБ УНИВЕРСИТЕТЕ
Chắc các bạn đã thấy, vần đuôi phổ biến của danh từ ở cách 6 là – Е, ở tất cả các giống.
НА СТОЛЕ, НА ПОЛКЕ, НА ОКНЕ. Trên bàn, trên giá, trên cửa sổ.
Còn danh từ giống cái với đuôi là –ИЯ và danh từ giống trung với đuôi là –ИЕ thì khi sang cách 6 sẽ có đuôi là –ИИ. Thí dụ
НА ЛЕКЦИИ, НА ЗДАНИИ. Trong giờ học (bài giảng), Trong tòa nhà
Sau đây là biến đổi của đại từ nhân xưng trong cách 6:
Я – ОБО МНЕ Tôi – Về tôi
ТЫ – О ТЕБЕ Bạn, cậu – Về bạn, về cậu
ОН – О НЕМ Anh ấy – Về anh ấy
ОНА – О НЕЙ Cô ấy – Về cô ấy
МЫ – О НАС Chúng ta, chúng tôi – Về chúng ta, về chúng tôi
ВЫ – О ВАС Các bạn, các anh chị - Về các bạn, về các anh chị
ОНИ – О НИХ Họ - Về họ.
Để nắm vững giới cách-cách 6, đề nghị các bạn luyện tập dùng danh từ và đại từ trong câu cách 6 lập thành đoạn hội thoại hoặc câu chuyện ngắn kể về bản thân và bạn bè của mình.
Hy vọng sớm được biết về những thành tích của các bạn trong việc học tiếng Nga.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 39

Đề tài: Học tiếng Nga (92 bài )
 
25.08.2012, 20:57
In bài Gửi mail cho bạn Bổ sung vào blog
русский язык учебник Tải về

Photo: RIA Novosti
Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Như vậy là Tania và Đan Thi  đã giới thiệu với các bạn tòan bộ 6 cách của tiếng Nga. Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhắc lại nhé. Ta sẽ ôn tập qua câu chuyện nhỏ. Mời các bạn cùng tham gia.
ЭТО МОЙ ДРУГ АНТОН. ОН ПРИЕХАЛ ИЗ ПЕТЕРБУРГА. ЕМУ 25 ЛЕТ. АНТОН - СТУДЕНТ. ОН УЧИТСЯ В МОСКОВСКОМ УНИВЕРСИТЕТЕ. У АНТОНА НЕТ КВАРТИРЫ В МОСКВЕ. ОН ЖИВЕТ В ОБЩЕЖИТИИ. ОКОЛО ОБЩЕЖИТИЯ ЕСТЬ КИНОТЕАТР, И АНТОН ЧАСТО ХОДИТ ТУДА СМОТРЕТЬ НОВЫЕ ФИЛЬМЫ. В СУББОТУ У АНТОНА БЫЛ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ, И Я ХОДИЛА К НЕМУ В ГОСТИ. Я ПОДАРИЛА АНТОНУ ИНТЕРЕСНУЮ КНИГУ О РОССИЙСКИХ АКТЕРАХ. ВЕЧЕРОМ МЫ ХОДИЛИ В КАФЕ С ДРУЗЬЯМИ. ТАМ МЫ ПИЛИ КОФЕ С ТОРТОМ И ЕЛИ МОРОЖЕНОЕ С ШОКОЛАДОМ. В СЕНТЯБРЕ МЫ ПОЕДЕМ С АНТОНОМ В ПЕТЕРБУРГ НА МАШИНЕ.
Đây là Anton bạn trai của tôi. Anh ấy đến từ Peterburg. Anh ấy 25 tuổi. Anton là sinh viên. Anh ấy học ở Đại học Tổng hợp Matxcơva. Anton không có căn hộ ở Matxcơva. Anh ấy sống trong ký túc xá. Gần ký túc xá có rạp chiếu phim và Anton thường đến đó xem những bộ phim mới. Hôm thứ Bảy là ngày sinh nhật của Anton, và tôi đã đến thăm anh ấy. Tôi đã tặng Anton một cuốn sách thú vị về các diễn viên Nga. Buổi chiều chúng tôi cùng bạn bè tới quán cà-phê. Ở đó chúng tôi uống cà-phê với bánh ga-tô và ăn kem sô-cô-la. Tháng Chín chúng tôi sẽ cùng Anton đi Peterburg bằng ô tô.
Trong câu chuyện này giới thiệu tất cả các cách của tiếng Nga. Nào, chúng ta cùng xem lại một lần nữa nhé.
Nguyên cách-cách 1 trả lời cho câu hỏi кто? что?
ЭТО МОЙ ДРУГ АНТОН.
Trong câu chuyện của chúng ta ở cách thứ nhất có các danh từ ДРУГ và АНТОН và đại từ МОЙ.
Sinh cách-cách 2 trả lời cho câu hỏi у кого? нет кого? нет чего? откуда? сколько? где? Trong đọan văn trần thuật trên giới thiệu những từ trong cách 2 trả lời cho các câu hỏi này.
У АНТОНА НЕТ КВАРТИРЫ В МОСКВЕ.
укого? - Ở ai?
У АНТОНА.
нет чего? - Không có cái gì?
НЕТ КВАРТИРЫ.
откуда? - Đến từ đâu?
ИЗ ПЕТЕРБУРГА.
Còn thí dụ khác về cách 2 trả lời cho câu hỏi откуда?
НЕДАВНО Я ПРИЛЕТЕЛА ИЗ ХАНОЯ. СЕСТРА ВЫШЛА ИЗ ДОМА. Cách đây chưa lâu tôi bay đến từ Hà Nội. Em gái đi ra khỏi nhà.
сколько? - Bao nhiêu tuổi?
25 ЛЕТ.
Danh từ chỉ số tuổi để ở cách 2- sinh cách. Trong đó, xin lưu ý là khi nói về số năm, các số từ 2 và 3 dùng với từ ГОДА, những số từ còn lại đi với từ ЛЕТ.
МОЕЙ СОСЕДКЕ 60 ЛЕТ, А ЕЁ ВНУКУ – ТРИ ГОДА. Bà hàng xóm của tôi 60 tuổi, còn cháu trai của bà ấy 3 tuổi.
Câu hỏi где? dùng trong cách 2 khi câu trả lời là những danh từ với giới từ ОКОЛО. Thí dụ như trong câu chuyện của chúng ta:
ОКОЛО ОБЩЕЖИТИЯ ЕСТЬ КИНОТЕАТР.
Tặng cách-cách 3 trả lời cho câu hỏi кому? чему? к кому? к чему?
Я ХОДИЛА К НЕМУ В ГОСТИ.
к кому? - Đến ai?
К НЕМУ.
Я ПОДАРИЛА АНТОНУ ИНТЕРЕСНУЮ КНИГУ.
кому? - Tặng cho ai?
АНТОНУ.
Trong mệnh đề ЕМУ 25 ЛЕТ, đại từ ЕМУ ở cách 3.
Chúng ta trở lại với câu đã nêu ở trên.
МОЕЙ СОСЕДКЕ 60 ЛЕТ, А ЕЁ ВНУКУ – ТРИ ГОДА.
Ở đây có các danh từ СОСЕДКЕ và ВНУКУ, cũng như đại từ МОЕЙ đứng ở cách 3.
Các bạn thân mến, bài học nhắc lại các cách của tiếng Nga tạm dừng ở đây. Ba cách còn lại, chúng ta sẽ cùng ôn tập ở bài học vào thứ Bảy tuần tới.
Chúc các bạn thành công và hẹn gặp trên làn sóng điện của đài "Tiếng nói nước Nga".

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 40

Đề tài: Học tiếng Nga (92 bài )
 
1.09.2012, 16:03
In bài Gửi mail cho bạn Bổ sung vào blog
торт день рождения свечи праздник Tải về
© Flickr.com

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Chúng ta tiếp tục ôn lại các cách trong tiếng Nga. Ở bài trước ta đã nhắc lại ba cách – nguyên cách (cách 1), sinh cách (cách 2) và tặng cách (cách 3). Hôm nay chúng ta sẽ ôn lại xem, danh từ, đại từ và tính từ biến đổi như thế nào trong đối cách (cách 4). Vẫn là đoạn văn trần thuật ngắn mà chúng ta đã biết. 
ЭТО МОЙ ДРУГ АНТОН. ОН ПРИЕХАЛ ИЗ ПЕТЕРБУРГА. ЕМУ 25 ЛЕТ. АНТОН - СТУДЕНТ. ОН УЧИТСЯ В МОСКОВСКОМ УНИВЕРСИТЕТЕ. У АНТОНА НЕТ КВАРТИРЫ В МОСКВЕ. ОН ЖИВЕТ В ОБЩЕЖИТИИ. ОКОЛО ОБЩЕЖИТИЯ ЕСТЬ КИНОТЕАТР, И АНТОН ЧАСТО ХОДИТ ТУДА СМОТРЕТЬ НОВЫЕ ФИЛЬМЫ. В СУББОТУ У АНТОНА БЫЛ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ, И Я ХОДИЛА К НЕМУ В ГОСТИ. Я ПОДАРИЛА АНТОНУ ИНТЕРЕСНУЮ КНИГУ О РОССИЙСКИХ АКТЕРАХ. ВЕЧЕРОМ МЫ ХОДИЛИ В КАФЕ С ДРУЗЬЯМИ. ТАМ МЫ ПИЛИ КОФЕ С ТОРТОМ И ЕЛИ МОРОЖЕНОЕ С ШОКОЛАДОМ. В СЕНТЯБРЕ МЫ ПОЕДЕМ С АНТОНОМ В ПЕТЕРБУРГ НА МАШИНЕ. Я ЛЮБЛЮ МОЕГО ДРУГА.
Đây là Anton bạn trai của tôi. Anh ấy đến từ Peterburg. Anh ấy 25 tuổi. Anton là sinh viên. Anh ấy học ở Đại học Tổng hợp Matxcơva. Anton không có căn hộ ở Matxcơva. Anh ấy sống trong ký túc xá. Gần ký túc xá có rạp chiếu phim và Anton thường đến đó xem những bộ phim mới. Hôm thứ Bảy là ngày sinh nhật của Anton, và tôi đã đến thăm anh ấy. Tôi đã tặng Anton một cuốn sách thú vị về các diễn viên Nga. Buổi chiều chúng tôi cùng bạn bè tới quán cà-phê. Ở đó chúng tôi uống cà-phê với bánh ga-tô và ăn kem sô-cô-la. Tháng Chín chúng tôi sẽ cùng Anton đi Peterburg bằng ô tô. Tôi yêu quí bạn (của) tôi.
Bây giờ ta sẽ xem trong câu chuyện này có chỗ nào là cách 4. Chắc các bạn còn nhớ, đối cách-cách 4 trả lời cho các câu hỏi кого? что? куда? когда?
Я ЛЮБЛЮ МОЕГО ДРУГА.
Люблю кого? Yêu mến ai?
МОЕГО ДРУГА.
Trong mệnh đề này có danh từ ДРУГ và đại từ МОЙ đã được biến đổi sang cách 4.
Я ПОДАРИЛА АНТОНУ ИНТЕРЕСНУЮ КНИГУ. АНТОН ЧАСТО ХОДИТ ТУДА СМОТРЕТЬ НОВЫЕ ФИЛЬМЫ.
Подарила что? Tặng cái gì?
ИНТЕРЕСНУЮ КНИГУ.
Danh từ КНИГА và tính từ ИНТЕРЕСНАЯ đã biến đổi đuôi vì đứng trong câu cách 4.
Смотреть что? Xem cái gì?
НОВЫЕ ФИЛЬМЫ.
Danh từ số nhiều ФИЛЬМЫ và tính từ số nhiều НОВЫЕ cũng ở cách 4.
ТАМ МЫ ПИЛИ КОФЕ С ТОРТОМ И ЕЛИ МОРОЖЕНОЕ С ШОКОЛАДОМ
Пили что? Uống gì?
КОФЕ.
Ели что? Ăn gì?
МОРОЖЕНОЕ.
Các danh từ КОФЕ và МОРОЖЕНОЕ đứng ở cách 4. Xin nhắc thêm, cần dùng cách 4 mỗi khi chúng ta nói về thức ăn. Thí dụ:
НА ЗАВТРАК Я ЕМ ЯЙЦО, ХЛЕБ И СЫР. МОЙ ДРУГ ЛЮБИТ МЯСО И КАРТОШКУ, А Я ПРЕДПОЧИТАЮ РЫБУ И ОВОЩИ.
Bữa sáng (điểm tâm) tôi ăn trứng, bánh mì và phó-mát. Bạn tôi thích thịt và khoai tây, còn tôi ưa chọn cá và rau.
Ở đây các danh từ ЯЙЦО, ХЛЕБ, СЫР, МЯСО, КАРТОШКА, РЫБА, ОВОЩИ đều ở cách 4.
Xin lưu ý, trong cách 4, cần biến đổi chỉ những danh từ giống đực như ДРУГ – ДРУГА , và danh từ giống cái có tận cùng là –А và –Я như КНИГА - КНИГУ, РЫБА - РЫБУ. Những danh từ còn lại dù đứng trong cách 4 vẫn không biến đổi và có hình thức như cách 1 - ЯЙЦО, СЫР, ФИЛЬМЫ, ОВОЩИ.
Я ЕЗДИЛА К НЕМУ В ГОСТИ. ВЕЧЕРОМ МЫ ХОДИЛИ В КАФЕ. МЫ ПОЕДЕМ С АНТОНОМ В ПЕТЕРБУРГ.
Trong những câu này, cách 4 trả lời cho câu hỏi куда?
Куда я ездила? Tôi đã đi đâu?
В ГОСТИ.
Куда мы ходили? Chúng tôi đã đi đâu?
В КАФЕ.
Куда мы поедем? Chúng tôi sẽ đi đâu?
В ПЕТЕРБУРГ.
Ở đây các danh từ cách 4 đòi hỏi động từ chuyển động ЕЗДИТЬ và ХОДИТЬ. Trong trường hợp này nhất thiết phải có những giới từ đứng trước là В và НА.
ПОЙТИ В МУЗЕЙ, ХОДИТЬ НА РАБОТУ, ПОЕХАТЬ НАМОРЕ, ПОЛЕТЕТЬ ВОВЬЕТНАМ. Đi đến viện bảo tàng, đi đến chỗ làm, đi ra biển, bay sang Việt Nam.
В СУББОТУ У АНТОНА БЫЛ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ.
Trong mệnh đề ngắn này cách 4 trả lời cho câu hỏi когда?
Когда был день рождения? Sinh nhật là khi nào?
В СУББОТУ.
Bây giờ chúng ta sẽ nhắc lại các ngày trong tuần bằng tiếng Nga:
В ПОНЕДЕЛЬНИК – (vào, trong ngày) thứ Hai, ВО ВТОРНИК – (vào, trong ngày) thứ Ba, В СРЕДУ – (vào, trong ngày) thứ Tư, В ЧЕТВЕРГ – (vào, trong ngày) thứ Năm, В ПЯТНИЦУ - (vào, trong ngày) thứ Sáu, В СУББОТУ -(vào, trong ngày) thứ Bảy, В ВОСКРЕСЕНЬЕ - (vào, trong ngày) Chủ nhật.
Xin các bạn lưu ý đến đặc điểm phát âm của các câu. Nếu danh từ đứng sau bắt đầu bằng phụ âm hữu thanh thì giới từ В cũng đọc như vần hữu thanh là В.
В ГОСТИ. В МУЗЕЙ.
Nếu danh từ đứng sau bắt đầu với phụ âm vô thanh thì giới từ В cần phát âm giống như vần vô thanh Ф.
В ПОНЕДЕЛЬНИК, В СРЕДУ, В ЧЕТВЕРГ, В КАФЕ.
Nếu danh từ đứng sau bắt đầu với vần В thì giới từ sẽ biến thành ВО.
ВО ВТОРНИК, ВОВЬЕТНАМ.
Các bạn thân mến, bài ôn tập của chúng ta tạm dừng ở đây. Trong bài tới chúng ta sẽ nhắc lại tạo cách-cách 5 và giới cách-cách 6. Xin hẹn gặp lại trên làn sóng điện của Đài "Tiếng nói nước Nga".

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 50

Đề tài: Học tiếng Nga (92 bài )
 
16.02.2013, 02:31
In bài Gửi mail cho bạn Bổ sung vào blog
Chúng ta học tiếng Nga – Bài 50 Tải về

Photo: RIA Novosti
Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Tania, chị đang nghĩ gì vậy?
Я ДУМАЮ О СВОЕЙ ПОДРУГЕ, У КОТОРОЙ СЕГОДНЯ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. Tôi nghĩ về cô bạn, có sinh nhật vào hôm nay.
Hôm nay chúng ta sẽ làm quen với một đại từ, không có tương tự trong các ngôn ngữ châu Âu. Đó là đại từ СВОЙ. Nó chỉ những vật hay hiện tượng thuộc về người nào đó, và cần đến khi mô tả hành động diễn ra với người đó. Thí dụ:
АННА ЗАБОТИТСЯ О СВОЕМ ЗДОРОВЬЕ. Anna chăm lo (quan tâm) về sức khỏe của mình. Sức khỏe của ai? Cô ấy làm gì? Chăm lo (quan tâm).
ПОДУМАЙ О СВОЕЙ УЧЕБЕ! Hãy nghĩ về chuyện học tập của mình! Chuyện học tập của ai? Bạn cần làm gì? Hãy nghĩ về học tập.
У МОЕГО ДРУГА ДВЕ СОБАКИ. ОН ЧАСТО РАССКАЗЫВАЕТ МНЕ О СВОИХ ПИТОМЦАХ. Bạn tôi có hai con chó. Anh ấy thường kể với tôi về những con vật nuôi của mình. Chó của ai? Của anh bạn tôi. Anh ấy làm gì? Kể về những con vật nuôi.
Đại từ СВОЙ thống nhất về giống và số với danh từ mà nó đi kèm.
СВОЙ ДОМ – là giống đực số ít, СВОЯ СЕСТРА – giống cái số ít, СВОЕ МЕСТО – giống trung số ít, СВОИ ЗАНЯТИЯ – số nhiều.
Để hiểu rõ hơn về đặc điểm của đại từ СВОЙ, chúng ta sẽ nghe đoạn văn ngắn.
МОЯ БАБУШКА – ОЧЕНЬ ИНТЕРЕСНЫЙ ЧЕЛОВЕК. ОНА ЧАСТО ВСПОМИНАЕТ О СВОЕЙ МОЛОДОСТИ. Я ЛЮБЛЮ СЛУШАТЬ РАССКАЗЫ О ЕЕ ЖИЗНИ. Я МЕЧТАЮ НАПИСАТЬ КНИГУ О СВОЕЙ БАБУШКЕ. Bà tôi là con người rất thú vị. Bà hay hồi tưởng về thời tuổi trẻ của mình. Tôi thích nghe những câu chuyện về cuộc đời của bà. Tôi mơ ước viết cuốn sách về người bà của mình.
Chúng ta sẽ so sánh hai mệnh đề.
ОНА ЧАСТО ВСПОМИНАЕТ О СВОЕЙ МОЛОДОСТИ. Я ЛЮБЛЮ СЛУШАТЬ РАССКАЗЫ О ЕЁ ЖИЗНИ.
Trong cả hai mệnh đề đều có đại từ giống cái số ít trong câu giới từ:
О СВОЕЙ và О ЕЁ. Vậy có gì khác nhau ở đây? Điều bí mật ẩn chứa trong đối tượng của hành động. Trong mệnh đề ОНА ЧАСТО ВСПОМИНАЕТ О СВОЕЙ МОЛОДОСТИ thì đối tượng hành động ОНА, tức là bà, nhớ lại về thời thanh xuân thuộc về bà. Vì thế ở đây cần dùng đại từ СВОЕЙ. Còn trong mệnh đề
Я ЛЮБЛЮ СЛУШАТЬ РАССКАЗЫ О ЕЕ ЖИЗНИ thì đối tượng hành động là Я, tức là cậu bé nghe chuyện kể về cuộc đời bà, cuộc đời không thuộc về cậu bé này, vì thế cần dùng đại từ ЕЁ.
Bây giờ thêm một đọan ngắn nữa có sử dụng đại từ СВОЙ.
Я НЕ ЛЮБЛЮ ПИСАТЬ ПИСЬМА. ПОЭТОМУ Я ЧАСТО ЗВОНЮ ДОМОЙ И РАССКАЗЫВАЮ О СВОЕЙ ЖИЗНИ В МОСКВЕ, О СВОИХ УСПЕХАХ В УЧЕБЕ, О СВОЕМ НОВОМ ДРУГЕ. КОГДА Я ГОВОРЮ С МАМОЙ, Я УЗНАЮ НОВОСТИ О СВОЕЙ СЕМЬЕ: О СВОЕМ ОТЦЕ И СВОЕЙ МЛАДШЕЙ СЕСТРЕ. МАМА РАССКАЗЫВАЕТ МНЕ О СВОЕЙ РАБОТЕ. Tôi không thích viết thư. Vì thế tôi thường gọi điện về nhà và kể về cuộc sống của mình ở Matxcơva, về những thành tích của mình trong học tập, về người bạn mới của mình. Khi tôi nói chuyện với mẹ, tôi được biết tin mới về gia đình của mình: về cha của tôi và em gái út của tôi. Mẹ kể cho tôi về công việc của mẹ.
Các bạn hãy phân tích câu chuyện nhỏ này và lý giải xem vì sao trong bài cần dùng đại từ СВОЙ ở giống và số khác nhau.
Bài học hôm nay đến đây tạm dừng.
Bài học tiếng Nga trên trang điện tử của đài chúng tôi sẽ hỗ trợ thêm cho các bạn trong việc ôn luyện. Xin chúc những thành công mới ở những bài học mới trong năm mới.
ДО СВИДАНЬЯ!

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 49

Đề tài: Học tiếng Nga (92 bài )
 
4.02.2013, 12:48
In bài Gửi mail cho bạn Bổ sung vào blog
книги литература книга Tải về

© Photо: SXC.hu
Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng ta tiếp tục chủ đề câu phức hợp trong tiếng Nga có sử dụng liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ.
Trong bài trước những từ này đứng ở nguyên cách – cách 1. Chúng ta cùng xem lại một chút nhé.
ЭТО МОЙ ДРУГ, КОТОРЫЙ ЖИВЕТ В МОСКВЕ. А ЭТО МОЯ ПОДРУГА, КОТОРАЯ ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ. ПО СУББОТАМ МЫ ХОДИМ В КАФЕ, КОТОРОЕ НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА. ТАМ МЫ ЕДИМ ПИРОЖНЫЕ, КОТОРЫЕ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ.
Đây là anh bạn (người bạn trai) của tôi, người sống ở Matxcơva. Còn đây là cô bạn (người bạn gái) của tôi, người sống ở ngoại ô Matxcơva. Vào các thứ Bảy, chúng tôi đến quán cà phê, ở gần nhà tôi. Tại đó chúng tôi ăn bánh nướng, loại bánh mà chúng tôi rất thích.
Trong bài hôm nay chúng ta sẽ xem xét những dạng nhiệm vụ phức tạp hơn. Liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ sẽ ở sinh cách – cách 2.
Mời các bạn theo dõi thí dụ:
ЭТО МОЙ БРАТ. У МОЕГО БРАТА БОЛЬШАЯ СЕМЬЯ. – ЭТО МОЙ БРАТ, У КОТОРОГО БОЛЬШАЯ СЕМЬЯ. Đây là anh trai tôi. Anh trai tôi có một gia đình lớn. – Đây là anh trai tôi, người có một gia đình lớn.
Liên từ КОТОРЫЙ đứng trong mệnh đề ở cách 2 và có đuôi là –ОГО.
Biến đổi: КОТОРЫЙ – КОТОРОГО.
Xin nhắc rằng vĩ tố –ОГО trong tính từ và đại từ của tiếng Nga khi phát âm sẽ là –ОВО.
Xin lưu ý các bạn lần nữa về cấu trúc sở hữu trong tiếng Nga. Khác với phần lớn các ngôn ngữ trên thế giới, trong tiếng Nga mà nói Я ИМЕЮ hoặc Я НЕ ИМЕЮ là không chuẩn. Biểu đạt sở hữu bằng tiếng Nga cần nói là У МЕНЯ ЕСТЬ hoặc У МЕНЯ НЕТ. Trong trường hợp này danh từ, đại từ, liên từ biểu thị một người hay một vật sở hữu cái gì đó, luôn luôn đứng ở cách 2. Ta trở lại với thí dụ trên:
У МОЕГО БРАТА - БОЛЬШАЯ СЕМЬЯ. ЭТО МОЙ БРАТ, У КОТОРОГО БОЛЬШАЯ СЕМЬЯ.
Cũng sẽ có vĩ tố như vậy đối với liên từ giống trung КОТОРОЕ.
ДЕВУШКА СИДИТ У ОКНА. ИЗ ОКНА ВИДНО МОРЕ. – ДЕВУШКА СИДИТ У ОКНА, ИЗ КОТОРОГО ВИДНО МОРЕ. Cô gái ngồi bên cửa sổ. Từ cửa sổ biển thấy rõ. – Cô gái ngồi bên cửa sổ, mà từ đó biển thấy rõ.
Còn bây giờ mời các bạn nghe thí dụ với liên từ giống cái КОТОРАЯ.
У МОЕГО ДРУГА ЕСТЬ КНИГА. ЭТОЙ КНИГИ НЕТ В БИБЛИОТЕКЕ. - У МОЕГО ДРУГА ЕСТЬ КНИГА, КОТОРОЙ НЕТ В БИБЛИОТЕКЕ. Bạn tôi có cuốn sách. Cuốn sách này trong thư viện không có. – Bạn tôi có cuốn sách, mà trong thư viện không có.
Ở đây liên từ КОТОРАЯ đứng ở cách 2 và có đuôi –ОЙ. Xin nhắc, trong mệnh đề phủ định thì danh từ, đại từ, liên từ chỉ sự thiếu vắng người hay vật nào đó, luôn để ở cách 2.
Và cuối cùng là thí dụ với liên từ số nhiều КОТОРЫЕ.
ВОТ ФОТОГРАФИЯ МОИХ ДРУЗЕЙ. Я ПОЛУЧИЛ ОТ НИХ ВЧЕРА ПИСЬМО. - ВОТ ФОТОГРАФИЯ МОИХ ДРУЗЕЙ, ОТ КОТОРЫХ Я ПОЛУЧИЛ ВЧЕРА ПИСЬМО. Đây là ảnh của các bạn tôi. Hôm qua tôi đã nhận được thư (của, từ) các bạn. – Đây là ảnh của các bạn tôi, những người mà chiều qua tôi nhận được thư.
Ở đây liên từ КОТОРЫЕ đứng ở cách 2 và có đuôi là –ЫХ.
Để hiểu rõ hơn về chủ đề không đơn giản này, mời các bạn nghe thêm mấy thí dụ nữa. Chúng tôi sẽ đọc hai câu đơn, và sau đó sẽ đọc câu phức hợp cấu tạo từ những câu đơn này.
АНТОН ХОДИЛ В КИНО С ДРУГОМ. У ДРУГА БЫЛ ЛИШНИЙ БИЛЕТ. - АНТОН ХОДИЛ В КИНО С ДРУГОМ, У КОТОРОГО БЫЛ ЛИШНИЙ БИЛЕТ. Anton đi xem phim với bạn. Anh bạn có vé thừa. – Anton đi xem với bạn, người có vé thừa.
Я ХОЧУ ПОЗДРАВИТЬ СВОЮ ПОДРУГУ. У НЕЕ СЕГОДНЯ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. - Я ХОЧУ ПОЗДРАВИТЬ СВОЮ ПОДРУГУ, У КОТОРОЙ СЕГОДНЯ ДЕНЬ РОЖДЕНИЯ. Tôi muốn chúc mừng bạn gái của mình. Hôm nay là ngày sinh nhật của cô ấy. – Tôi muốn chúc mừng bạn gái của mình, người mà hôm nay là ngày sinh nhật.
Я УВИДЕЛ В КАФЕ СТУДЕНТОВ. ИХ НЕ БЫЛО СЕГОДНЯ В ИНСТИТУТЕ. - Я УВИДЕЛ В КАФЕ СТУДЕНТОВ, КОТОРЫХ НЕ БЫЛО СЕГОДНЯ В ИНСТИТУТЕ. Tôi nhìn thấy các sinh viên trong quán cà phê. Hôm nay họ không có mặt ở trường đại học. – Tôi nhìn thấy các sinh viên trong quán cà phê, những người hôm nay không có mặt ở trường đại học.
Các bạn thân mến, đề nghị các bạn tập luyện thêm, tự đặt câu phức hợp với liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ ở cách 2.
Bài học tiếng Nga trên trang điện tử của đài chúng tôi sẽ hỗ trợ thêm cho các bạn trong việc ôn luyện. Xin chúc những thành công mới ở những bài học mới trong năm mới.
ДО СВИДАНЬЯ!

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 48

Đề tài: Học tiếng Nga (92 bài )
 
21.01.2013, 11:15
In bài Gửi mail cho bạn Bổ sung vào blog
мороженое кафе десерт Tải về
© Flickr.com

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng ta tiếp tục chủ đề câu phức hợp trong tiếng Nga. Chúng ta sẽ học để sử dụng câu phức có mệnh đề phụ thuộc bắt đầu với từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ.
Trước hết xin mời các bạn theo dõi thí dụ:
ЭТО МОЙ ДРУГ. ОН ЖИВЕТ В МОСКВЕ. А ЭТО МОЯ ПОДРУГА. ОНА ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ. ПО СУББОТАМ МЫ ХОДИМ В КАФЕ. ОНО НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА. ТАМ МЫ ЕДИМ ПИРОЖНЫЕ. ОНИ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ.
Đây là anh bạn (người bạn trai) của tôi. Anh ấy sống ở Matxcơva. Còn đây là cô bạn (người bạn gái) của tôi. Cô ấy sống ở ngoại ô Matxcơva. Vào các thứ Bảy, chúng tôi đến quán cà phê. Quán ở gần nhà tôi. Tại đó chúng tôi ăn bánh nướng. Những chiếc bánh khiến chúng tôi rất thích (Chúng tôi rất thích bánh).
Từ những câu đơn giản này có thể tạo thành câu phức hợp. Các bạn hãy xem tạo câu mới thế nào.
ЭТО МОЙ ДРУГ. ОН ЖИВЕТ В МОСКВЕ. Sẽ thành ЭТО МОЙ ДРУГ, КОТОРЫЙ ЖИВЕТ В МОСКВЕ.
Câu thứ hai gộp vào với câu thứ nhất, còn đại từ ОН được thay bằng liên từ КОТОРЫЙ. ОН – là đại từ giống đực, vì thế cả từ КОТОРЫЙ cũng sẽ là giống đực với kết thúc bằng –ЫЙ.
Câu phụ nghĩa là dấu hiệu xác định của người hoặc đối tượng trong câu thứ nhất.
ЭТО КАКОЙ МОЙ ДРУГ? - КОТОРЫЙ ЖИВЕТ В МОСКВЕ.
Đó là người bạn nào của tôi? - Người bạn sống ở Matxcơva.
Chúng ta tiếp tục cấu tạo câu phức mới từ câu đơn:
Từ hai câu đơn: А ЭТО МОЯ ПОДРУГА. ОНА ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ. Sẽ thành một câu phức:  А ЭТО МОЯ ПОДРУГА, КОТОРАЯ ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ.
Đại từ ОНА được thay bằng liên từ КОТОРАЯ. ОНА – là đại từ giống cái, vì thế cả từ КОТОРАЯ cũng ở dạng giống cái với vĩ tố –АЯ.
А ЭТО КАКАЯ МОЯ ПОДРУГА? - КОТОРАЯ ЖИВЕТ В ПОДМОСКОВЬЕ. Còn đây là cô bạn nào của tôi? – Cô bạn sống ở ngoại ô Matxcơva.
Hai câu đơn ПО СУББОТАМ МЫ ХОДИМ В КАФЕ. ОНО НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА - Sẽ tạo thành câu phức ПО СУББОТАМ МЫ ХОДИМ В КАФЕ, КОТОРОЕ НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА.
Đại từ ОНО được thay thế bằng liên từ КОТОРОЕ. ОНО là đại từ giống trung, vì thế cả từ КОТОРОЕ cũng sẽ ở giống trung với đuôi là –ОЕ.
В КАКОЕ КАФЕ МЫ ХОДИМ ПО СУББОТАМ? - КОТОРОЕ НАХОДИТСЯ ОКОЛО МОЕГО ДОМА.
Vào thứ Bẩy chúng tôi đến quán cà phê nào? – Quán ở gần nhà tôi.
Tiếp theo, với các câu đơn giản: ТАМ МЫ ЕДИМ ПИРОЖНЫЕ. ОНИ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ - Chúng ta sẽ có câu phức như sau: ТАМ МЫ ЕДИМ ПИРОЖНЫЕ, КОТОРЫЕ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ.
Đại từ ОНИ được thay thế bằng liên từ КОТОРЫЕ. ОНИ là đại từ số nhiều dùng cho cả ba giống, vì vậy tương ứng, từ thay thế cũng ở số nhiều và có kết thúc là –ЫЕ.
КАКИЕ ПИРОЖНЫЕ МЫ ТАМ ЕДИМ? - КОТОРЫЕ НАМ ОЧЕНЬ НРАВЯТСЯ.
Tại đó chúng tôi ăn bánh gì? – Bánh nướng mà chúng tôi rất thích.
Mời các bạn xem thêm thí dụ khác.
ВЕЧЕРОМ МНЕ ПОЗВОНИЛИ СТАРЫЕ ДРУЗЬЯ, КОТОРЫЕ НЕДАВНО ВЕРНУЛИСЬ ИЗ ФРАНЦИИ.
КАКИЕ ДРУЗЬЯ? – КОТОРЫЕ НЕДАВНО ВЕРНУЛИСЬ ИЗ ФРАНЦИИ.
Buổi chiều tôi nhận điện thoại của các bạn cũ, những người từ Pháp trở về cách đây chưa lâu.
Những người bạn nào? - Những người từ Pháp trở về cách đây chưa lâu.
ПОЗНАКОМЬТЕСЬ! ЭТО МОЯ УЧИТЕЛЬНИЦА, КОТОРАЯ ПОСОВЕТОВАЛА МНЕ СТАТЬ МАТЕМАТИКОМ.
КАКАЯ УЧИТЕЛЬНИЦА? – КОТОРАЯ ПОСОВЕТОВАЛА МНЕ СТАТЬ МАТЕМАТИКОМ.
Xin hãy làm quen nhé! Đây là cô giáo của tôi, người đã khuyên tôi trở thành nhà Tóan học.
Cô giáo nào? – Người đã khuyên tôi trở thành nhà Tóan học.
Я ОЧЕНЬ ЛЮБЛЮ ЭТО ЗДАНИЕ, КОТОРОЕ ПОСТРОИЛ ЗНАМЕНИТЫЙ РУССКИЙ АРХИТЕКТОР.
КАКОЕ ЗДАНИЕ? – КОТОРОЕ ПОСТРОИЛ ЗНАМЕНИТЫЙ РУССКИЙ АРХИТЕКТОР.
Tôi rất yêu tòa nhà này, đã được kiến trúc sư Nga nổi tiếng xây dựng.
Tòa nhà nào? – Tòa nhà đã được kiến trúc sư Nga nổi tiếng xây dựng.
Các bạn thân mến, đề nghị các bạn tập luyện thêm, tự đặt câu phức hợp với liên từ КОТОРЫЙ, КОТОРАЯ, КОТОРОЕ, КОТОРЫЕ.
Bài học tiếng Nga trên trang điện tử của đài chúng tôi sẽ hỗ trợ thêm cho các bạn trong việc ôn luyện. Xin chúc những thành công mới ở những bài học mới trong năm mới.
ДО СВИДАНЬЯ!

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 47

Đề tài: Học tiếng Nga (92 bài )
 
1.01.2013, 07:28
In bài Gửi mail cho bạn Bổ sung vào blog
новый год игрушки рождество праздник елка новый год новогоднее украшение Tải về
© Flickr.com

Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Bài học hôm nay của chúng tôi phát sóng vào khỏang thời gian tuyệt vời và kỳ diệu nhất trong năm: Khoảng thời gian của Năm mới và lễ Giáng sinh. Đó là khỏang thời gian khi tất cả hy vọng vào tương lai tốt đẹp hơn và mong đợi điều kỳ diệu sẽ đến. Người Nga có câu rằng, nếu tin vào điều kỳ diệu, thì nhất định điều kỳ diệu sẽ đến. Bài học hôm nay của chúng ta sẽ xoay quanh đề tài này.
РОМАН УЧИЛСЯ НА ЧЕТВЕРТОМ КУРСЕ ХУДОЖЕСТВЕННОГО ИНСТИТУТА. ОН МЕЧТАЛ СТАТЬ ИЗВЕСТНЫМ ХУДОЖНИКОМ. У НЕГО БЫЛО МНОГО ДРУЗЕЙ И ПОДРУГ, НО ЛЮБИМОЙ ДЕВУШКИ НЕ БЫЛО. Roman học năm thứ tư trường Đại học Nghệ thuật. Anh ấy từng mơ ước trở thành một họa sĩ nổi tiếng. Anh ấy có nhiều bạn bè cả bạn trai và bạn gái, nhưng chưa có người yêu.
ОДНАЖДЫ РОМАНУ ПРИСНИЛСЯ УДИВИТЕЛЬНЫЙ СОН. ОН УВИДЕЛ ПРЕКРАСНОЕ ЛИЦО ДЕВУШКИ. У НЕЕ БЫЛИ БОЛЬШИЕ ЗЕЛЕНЫЕ ГЛАЗА, МИЛАЯ УЛЫБКА И ДЛИННЫЕ ЗОЛОТИСТЫЕ ВОЛОСЫ. УТРОМ РОМАН ВЗЯЛ БОЛЬШОЙ ЛИСТ БУМАГИ И НАРИСОВАЛ ЭТО ЛИЦО. Một lần (một hôm) Roman có một giấc mơ đáng ngạc nhiên (lạ thường). Anh nhìn thấy khuôn mặt tuyệt đẹp của một cô gái. Cô ấy có đôi mắt to xanh biếc, nụ cười khả ái và mái tóc dài óng vàng. Buổi sáng Roman lấy một tờ giấy lớn và vẽ lại khuôn mặt này.
ПРОШЕЛ МЕСЯЦ, НО РОМАН НЕ МОГ ЗАБЫТЬ СВОЙ СОН. ЕМУ БЫЛО ГРУСТНО. МОРОЗНЫМ ЗИМНИМ ВЕЧЕРОМ РОМАН ПОШЕЛ В ПАРК, ЧТОБЫ ПОКАТАТЬСЯ НА КОНЬКАХ. НА КАТКЕ БЫЛО МНОГО МОЛОДЕЖИ. ВДРУГ РОМАН УВИДЕЛ ДЕВУШКУ, ОЧЕНЬ ПОХОЖУЮ НА ТУ, КОТОРУЮ ОН УВИДЕЛ ВО СНЕ. РОМАН ПОСПЕШИЛ ЗА НЕЙ, НО ДЕВУШКА ИСЧЕЗЛА. ВЕСЬ ВЕЧЕР РОМАН ИСКАЛ ЕЕ, НО НАЙТИ НЕ СМОГ. Một tháng trôi qua, nhưng Roman không thể quên giấc mơ của mình. Anh thấy buồn. Buổi chiều mùa đông băng giá Roman ra công viên để trượt băng. Trên sân băng rất đông bạn trẻ. Bỗng nhiên Roman nhìn thấy một cô gái, rất giống với người mà anh đã gặp trong mơ. Roman vội vàng đi theo cô ấy, nhưng cô gái đã biến mất. Cả buổi chiều Roman tìm cô, nhưng không sao thấy được.
КРУПНАЯ КОМПАНИЯ ПРОВОДИЛА КОНКУРС НА ЛУЧШУЮ РЕКЛАМУ МОБИЛЬНЫХ ТЕЛЕФОНОВ. РОМАН ПРИНЯЛ УЧАСТИЕ В КОНКУРСЕ. ОН НАРИСОВАЛ ПОРТРЕТ ДЕВУШКИ ИЗ СНА И МОБИЛЬНЫЙ ТЕЛЕФОН. ВНИЗУ ОН НАПИСАЛ: «ПОЗВОНИ МНЕ!» Một công ty lớn tiến hành cuộc thi tuyển quảng cáo xuất sắc nhất cho điện thoại di động. Roman đã tham gia thi. Anh vẽ chân dung cô gái trong giấc mơ và chiếc điện thoại di động. Phía dưới (bức vẽ) anh ghi (dòng chữ): “Hãy gọi điện cho tôi!”.
РОМАН ВЫИГРАЛ КОНКУРС. ЕГО РЕКЛАМА БЫЛА РАЗВЕШАНА ВО МНОГИХ МЕСТАХ ГОРОДА. ПОВЕСИЛИ ЕЕ И ОКОЛО КАТКА, НА КОТОРОМ РОМАН УВИДЕЛ ТАИНСТВЕННУЮ НЕЗНАКОМКУ. ОДНАЖДЫ НОЧЬЮ РОМАН ПРИШЕЛ К ЭТОЙ РЕКЛАМЕ, НАПИСАЛ НА НЕЙ БОЛЬШИМИ ЦИФРАМИ СВОЙ МОБИЛЬНЫЙ ТЕЛЕФОН И СТАЛ ЖДАТЬ ЧУДА. Roman đã (giành phần) thắng trong cuộc thi. Quảng cáo của anh được treo ở nhiều nơi của thành phố. (Người ta) treo (tấm quảng cáo) cả ở gần sân băng, nơi Roman nhìn thấy cô gái bí ẩn không quen biết. Một lần vào ban đêm Roman đến chỗ bức quảng cáo này, ghi trên đó số điện thoại (di động) của mình bằng những chữ số lớn, và bắt đầu chờ đợi điều kỳ diệu.
НАКАНУНЕ РОЖДЕСТВА РОМАНУ ПОЗВОНИЛИ. НОМЕР БЫЛ ЕМУ НЕИЗВЕСТЕН. ДЕВИЧИЙ ГОЛОС ПРОИЗНЕС: «ЗДРАВСТВУЙТЕ! Я УВИДЕЛА ВАШ ТЕЛЕФОН НА РЕКЛАМЕ. ВЫ ПРОСИЛИ МЕНЯ ПОЗВОНИТЬ. МЕНЯ ЗОВУТ ЮЛЯ. ЧТО ВЫ ХОТЕЛИ МНЕ СКАЗАТЬ?» Trước lễ Giáng sinh, có người gọi điện cho Roman. Số lạ. Giọng thiếu nữ vang lên: “Xin chào! Tôi nhìn thấy số điện thoại của bạn trên tấm quảng cáo. Bạn đề nghị tôi gọi điện. Tên tôi là Yulya. Bạn muốn nói gì với tôi vậy?”
РОМАН ПОМОЛЧАЛ СЕКУНДУ. «ВЫ ВОШЛИ В МОЮ ЖИЗНЬ ВО СНЕ. МНЕ БЫ ОЧЕНЬ ХОТЕЛОСЬ, ЧТОБЫ ЭТО БЫЛО НАЯВУ», СКАЗАЛ ОН ЮЛЕ. РОЖДЕСТВО ОНИ ВСТРЕТИЛИ ВМЕСТЕ. Roman im lặng một giây. Rồi anh nói với Yulya: “Bạn đã bước vào cuộc đời tôi trong mơ. Tôi rất mong điều đó trở thành hiện thực”. Họ đã đón Giáng sinh bên nhau.
Các bạn thân mến!Trong câu chuyện nhỏ này có nhiều thí dụ về các chủ đề ngữ pháp mới. Nhưng chúng ta sẽ xem xét cụ thể trong những bài học kỳ tới. Còn hôm nay, Tanya và Đan Thi xin tặng các bạn câu chuyện này và chúng tôi muốn chúc mừng nhân dịp Năm mới. Xin chúc cho những điều kỳ diệu tốt lành luôn được dành chỗ trong cuộc sống của mỗi người. Để sang Năm mới bạn, gia đình và người thân của bạn luôn được khỏe mạnh và trong ngôi nhà bạn luôn tràn đầy Tình yêu, Niềm vui và Hạnh phúc. Để những chương trình của đài phát thanh"Tiếng nói nước Nga" luôn là người bạn tốt và là phụ tá hữu ích của thính giả, còn những bài học tiếng Nga của chúng tôi sẽ giúp bạn làm quen với nước Nga và tiến vào thế giới văn học Nga. Xin hẹn gặp lại trên làn sóng điện của Đài "Tiếng nói nước Nga"!
ДО СВИДАНЬЯ!

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 46

Đề tài: Học tiếng Nga (92 bài )
 
1.12.2012, 16:18
In bài Gửi mail cho bạn Bổ sung vào blog
россия зима россия москва кремль снег мороз россия погода россия Tải về

Photo: EPA
Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Đã sang tháng 12 - tháng cuối cùng của năm và cũng là tháng đầu tiên của mùa đông Nga. Thông thường ở Nga tháng 12 thời tiết rất lạnh và khắp nơi phủ tuyết trắng xóa. Những tòa nhà bắt đầu được trang trí bằng dây kim tuyến lóng lánh, những tràng bóng bay kết hình, đèn lồng chăng ngang các phố còn bên lối ra vào và trên giá các cửa hàng bày cây thông xanh tô điểm lộng lẫy. Cảm thấy rất rõ đang gần đến một ngày hội yêu thích nhất của người Nga là ngày lễ Năm mới. Tania, sắp tới là năm gì vậy?
ДВЕ ТЫСЯЧИ ТРИНАДЦАТЫЙ. Năm 2013.
Hôm nay chúng ta sẽ nói về cách biểu đạt ngày tháng trong tiếng Nga. Trước ngưỡng cửa một năm mới, người ta luôn nhớ lại những sự kiện vui mừng và buồn đau của những năm đã qua. Thiên niên kỷ mới đã bắt đầu, một phần cuộc đời của chúng ta đã trôi qua trong thiên niên kỷ cũ, khi mà tất cả các năm đều bắt đầu với từ ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ – một nghìn chín trăm…
ВЕЛИКАЯ ОТЕЧЕСТВЕННАЯ ВОЙНА НАЧАЛАСЬ В ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ СОРОК ПЕРВОМ ГОДУ, А ЗАКОНЧИЛАСЬ ДЕВЯТОГО МАЯ ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ СОРОК ПЯТОГО ГОДА. Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại bắt đầu vào năm 1941, kết thúc vào (ngày) 9 tháng 5 năm 1945.
Các năm được biểu đạt bằng tổ hợp từ số lượng và từ cuối cùng chỉ số thứ tự, trong các cách chỉ biến đổi vĩ tố của từ cuối ДЕВЯТОМ, ПЯТОГО, những phần còn lại của tổ hợp từ vẫn giữ nguyên không đổi: ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ СОРОК.
12 АПРЕЛЯ ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ ШЕСТЬДЕСЯТ ПЕРВОГО ГОДА ЧЕЛОВЕК ВПЕРВЫЕ ПОЛЕТЕЛ В КОСМОС. В ДВЕ ТЫСЯЧИ ОДИННАДЦАТОМ ГОДУ МИР ОТМЕТИЛ ПОЛВЕКА НАЧАЛА КОСМИЧЕСКОЙ ЭРЫ.
(Ngày) 12 tháng 4 năm 1961 con người đầu tiên đã bay vào vũ trụ. Trong năm 2011 thế giới đã kỷ niệm nửa thế kỷ bắt đầu kỷ nguyên vũ trụ
Tania, nhà thơ yêu thích nhất của chị là ai?
АЛЕКСАНДР СЕРГЕЕВИЧ ПУШКИН.
Ông sinh ra khi nào?
ПУШКИН РОДИЛСЯ ШЕСТОГО ИЮНЯ ТЫСЯЧА СЕМЬСОТ ДЕВЯНОСТО ДЕВЯТОГО ГОДА.
Pushkin sinh (ngày) 6 tháng 6 năm 1799.
Như vậy, tất cả các năm của thiên niên kỷ vừa qua bắt đầu với từ ТЫСЯЧА, còn năm cuối cùng của thiên niên kỷ gọi là ДВУХТЫСЯЧНЫЙ. Chị nhớ không, Tania, tưởng chừng như cách đây chưa lâu chúng ta đón năm này, và quan niệm của mọi người không đồng nhất với nhau: một số người coi năm 2000 là năm cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai, còn những người khác gọi nó là năm đầu tiên của thiên niên kỷ thứ ba. Và thế là đã trôi qua 12 năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới. Nhân đây cũng xin nói thêm, chỉ trong 12 năm vừa qua đã có những kết hợp thú vị của các con số chỉ ngày tháng năm như 01.01.01 – ПЕРВОЕ ЯНВАРЯ ДВЕ ТЫСЯЧИ ПЕРВОГО ГОДА, 07.07.07 – СЕДЬМОЕ ИЮЛЯ ДВЕ ТЫСЯЧИ СЕДЬМОГО ГОДА hoặc là 12.12.12 – ДВЕНАДЦАТОЕ ДЕКАБРЯ ДВЕ ТЫСЯЧИ ДВЕНАДЦАТОГО ГОДА.
Xin các bạn lưu ý, tất cả các chữ số là số thứ tự đều ở giống trung.
ПЕРВОЕ, ВТОРОЕ, ТРЕТЬЕ, ЧЕТВЕРТОЕ, ПЯТОЕ, ШЕСТОЕ, СЕДЬМОЕ, ВОСЬМОЕ, ДЕВЯТОЕ, ДЕСЯТОЕ, ДВАДЦАТОЕ, ДВАДЦАТЬ ПЯТОЕ, ТРИДЦАТОЕ, ТРИДЦАТЬ ПЕРВОЕ. 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 20, 25, 30, 31.
Và chúng biến đổi như sau:
ПЕРВОГО СЕНТЯБРЯ НАЧИНАЕТСЯ УЧЕБНЫЙ ГОД. (Ngày) 1 tháng 9 bắt đầu năm học mới.
Nếu nói về ngày tháng diễn ra sự kiện nào đó, vĩ tố của từ cuối cùng bao giờ cũng là –ОГО.
ПЕРВОГО СЕНТЯБРЯ, ПЯТОГО ДЕКАБРЯ.
Nếu nói về việc, đến ngày tháng nào sẽ thực hiện hành động nào đó, thì vĩ tố của từ cuối sẽ là –ОМУ.
Я ДОЛЖЕН НАПИСАТЬ ДИПЛОМНУЮ РАБОТУ К ПЯТОМУ МАЯ. Đến (ngày) 5 tháng 5 tôi cần viết xong luận văn
К ПЯТОМУ МАЯ, К СЕМНАДЦАТОМУ СЕНТЯБРЯ. Đến (ngày) 5 tháng 5, đến (ngày) 17 tháng 9.
Các bạn hãy thử viết tiểu sử tóm tắt của mình với những từ chỉ ngày tháng năm. Thí dụ:
ЭТО МОЙ ДРУГ АНТОН. ОН РОДИЛСЯ В МОСКВЕ 7 АВГУСТА ТЫСЯЧА ДЕВЯТЬСОТ ДЕВЯНОСТОГО ГОДА. В ДВЕ ТЫСЯЧИ ВОСЬМОМ ГОДУ АНТОН ОКОНЧИЛ ШКОЛУ И ПОШЕЛ СЛУЖИТЬ В АРМИЮ. В ДВЕ ТЫСЯЧИ ДЕВЯТОМ ГОДУ ОН ВЕРНУЛСЯ ИЗ АРМИИ И ПОСТУПИЛ В МОСКОВСКИЙ ГОРНЫЙ ИНСТИТУТ. В ДВЕ ТЫСЯЧИ ЧЕТЫРНАДЦАТОМ ГОДУ АНТОН ОКОНЧИТ ИНСТИТУТ. ОН ХОЧЕТ СТАТЬ ГЕОЛОГОМ. Đây là anh bạn Anton của tôi. Anh ấy sinh tại Matxcơva vào ngày 7 tháng 8 năm 1990. Năm 2008, Anton tốt nghiệp phổ thông trung học và nhập ngũ phục vụ trong quân đội. Năm 2009, anh từ quân đội trở về và nhập (học) vào Đại học Mỏ Matxcơva. Năm 2014 Anton sẽ tốt nghiệp đại học. Anh ấy muốn trở thành nhà địa chất.
Xin chúc các bạn thành công.

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 45

Đề tài: Học tiếng Nga (92 bài )
 
17.11.2012, 16:14
In bài Gửi mail cho bạn Bổ sung vào blog
выпускник МГУ выпускной вуз Tải về

Photo: RIA Novosti
Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng tôi tiếp tục chủ đề "mệnh đề phức hợp” trong tiếng Nga. Trong bài trước ta làm quen với những mệnh đề phức hợp bình đẳng và mệnh đề phức hợp phụ thuộc. Các bạn đã biết rằng trong dạng mệnh đề phức hợp nhưng bình đẳng thì các phần độc lập với nhau và ta có thể tách thành những câu đơn giản, còn trong câu phức hợp phụ thuộc thì một phần đóng vai trò chính, phần kia là phụ, do vậy mệnh đề dạng này không tách ra thành những câu đơn riêng biệt được.
Các bạn cũng biết về ba loại câu phụ. Bây giờ ta hãy cùng ôn lại một chút.
Câu phụ thời gian biểu thị khoảng thời gian của hành động trong phần chính của mệnh đề phức hợp.
КОГДА ПРИДЕТ ЗИМА, Я БУДУ КАТАТЬСЯ НА ЛЫЖАХ. Khi mùa đông đến, tôi sẽ đi trượt tuyết.
Phần chính của mệnh đề này - Я БУДУ КАТАТЬСЯ НА ЛЫЖАХ, còn phần phụ chỉ rõ khung thời gian - КОГДА ПРИДЕТ ЗИМА. Nó trả lời cho câu hỏi: когда? Và gắn kết với phần chính của mệnh đề bằng liên từ КОГДА.
Loại tiếp theo của câu phụ mà chúng ta cũng đã nói tới, là câu phụ nguyên nhân, cho thấy nguyên nhân của hành động hoặc tình trạng được thể hiện trong phần chính của mệnh đề phức hợp.
Я ПОДАРЮ НИНЕ НОВЫЙ ДИСК, ПОТОМУ ЧТО ОНА ОЧЕНЬ ЛЮБИТ МУЗЫКУ. Tôi tặng Nina chiếc đĩa CD mới, vì cô ấy rất yêu âm nhạc.
Ở đây câu chính là - Я ПОДАРЮ НИНЕ НОВЫЙ ДИСК, còn câu phụ là - ПОТОМУ ЧТО ОНА ОЧЕНЬ ЛЮБИТ МУЗЫКУ.
Câu phụ nguyên nhân trả lời cho câu hỏi почему? Và gắn kết với phần chính bằng liên từ ПОТОМУ ЧТО.
Ở đây xin lưu ý các bạn về cách phát âm liên từ này. Ta viết ПОТОМУ ЧТО, nhưng phát âm là ПОТОМУ ШТО.
Dạng câu phụ cuối cùng mà chúng ta đã xem xét trong bài trước, là câu phụ chỉ điều kiện, biểu thị điều kiện của hành động nêu ra trong mệnh đề chính.
ЕСЛИ Я ПОЛУЧУ ВИЗУ, Я ЧЕРЕЗ МЕСЯЦ ПОЛЕЧУ ВО ФРАНЦИЮ. Nếu tôi nhận được visa, (thì) sau một tháng nữa tôi sẽ bay sang Pháp.
Ở đây câu chính là - Я ЧЕРЕЗ МЕСЯЦ ПОЛЕЧУ ВО ФРАНЦИЮ, còn câu phụ là - ЕСЛИ Я ПОЛУЧУ ВИЗУ. Nó trả lời cho câu hỏi при каком условии? Và gắn kết bằng liên từ ЕСЛИ.
Bây giờ chúng tôi giới thiệu một dạng khác của mệnh đề phụ thuộc. Đó là câu mục đích, biểu thị mục đích của hành động nêu ra trong mệnh đề chính.
Я ПОМОГ СВОЕМУ ДРУГУ АНДРЕЮ, ЧТОБЫ ОН ХОРОШО СДАЛ ЭКЗАМЕН. Tôi đã giúp đỡ bạn Andrei của mình để anh ấy trả thi tốt.
Câu chính là - Я ПОМОГ СВОЕМУ ДРУГУ АНДРЕЮ. Câu phụ là - ЧТОБЫ ОН ХОРОШО СДАЛ ЭКЗАМЕН. Nó trả lời cho câu hỏi зачем? с какой целью? Và gắn kết bằng liên từ ЧТОБЫ. Ở đây cũng cần lưu ý về cách phát âm – ta viết ЧТОБЫ, nhưng phát âm là ШТОБЫ.
Xin thêm thí dụ nữa về câu phụ chỉ mục đích.
МИНЬ ПОШЕЛ В АПТЕКУ, ЧТОБЫ КУПИТЬ ЛЕКАРСТВО ДЛЯ МАТЕРИ. Minh đến hiệu thuốc để mua thuốc cho mẹ.
Còn bây giờ mời các bạn nghe đọan hội thoại, trong đó sử dụng tất cả các dạng câu phụ mà chúng ta đã nhắc tới.
ПРИВЕТ, АНТОН! – ПРИВЕТ, ЗУНГ! – КАК ДЕЛА? – НОРМАЛЬНО. – КОГДА МЫ ВИДЕЛИСЬ ТРИ МЕСЯЦА НАЗАД, ТЫ ХОТЕЛ УЧИТЬ ВЬЕТНАМСКИЙ ЯЗЫК. УЖЕ НАЧАЛ? – ДА. Я ХОЧУ ЕГО ЗНАТЬ, ПОТОМУ ЧТО ЗАНИМАЮСЬ ВЬЕТНАМСКОЙ БОРЬБОЙ. – ЧТОБЫ ХОРОШО ЗНАТЬ ВЬЕТНАМСКИЙ ЯЗЫК, НАДО МНОГО ЗАНИМАТЬСЯ. Я МОГУ ТЕБЕ ПОМОЧЬ. – СПАСИБО. ЕСЛИ ДЕЛА ПОЙДУТ ХОРОШО, ЛЕТОМ Я ПОЛЕЧУ ВО ВЬЕТНАМ.
Anton à, chào cậu! - Chào Dũng! – Công việc thế nào? – Bình thường. – Khi chúng mình gặp nhau ba tháng trước, cậu muốn học tiếng Việt. Bắt đầu rồi hả? - Ừ. Tớ muốn biết tiếng Việt, vì tớ đang tập võ Việt Nam. – Để (biết tốt) thạo tiếng Việt, cần học nhiều. Tớ sẽ giúp cậu. – Cảm ơn. Nếu mọi chuyện ổn thỏa, mùa hè tớ sẽ bay sang Việt Nam.
Các bạn hãy tìm trong đọan hội thoại này những câu phụ chỉ thời gian, nguyên nhân, điều kiện và mục đích. Ngoài ra các bạn hãy tự nghĩ những đoạn hội thoại hay chuyện kể có sử dụng những mệnh đề như vậy.
Vẫn như mọi khi, tham khảo trang web của Đài "Tiếng nói nước Nga" sẽ giúp bạn trong việc học tiếng Nga.
Xin chúc các bạn có những thành công mới trên hành trình khám phá và nắm vững ngôn ngữ của đất nước bạch dương!

Chúng ta học tiếng Nga – Bài 44

Đề tài: Học tiếng Nga (92 bài )
 
3.11.2012, 16:16
In bài Gửi mail cho bạn Bổ sung vào blog
Зима в Москве; снег; морозы; солнце Tải về

Photo: RIA Novosti
Tania Rumyantseva và Đan Thi tiếp nối chương trình “Chúng ta học tiếng Nga”.
***
Các bạn thân mến, xin chào các bạn!
ЗДРАВСТВУЙТЕ!
Hôm nay chúng ta sẽ nói về những mệnh đề phức hợp trong tiếng Nga. Thông thường những mệnh đề này có hai loại. Loại thứ nhất là khi mà tất cả các bộ phận của một câu phức đều ngang bằng nhau, có thể tách ra để trở thành những câu đơn giản và độc lập.Thí dụ:
Я УСПЕШНО СДАЛ ЭКЗАМЕН, И МЫ С ДРУГОМ ПОШЛИ В КАФЕ. Tôi đã trả thi thành công, và chúng tôi cùng người bạn đi đến quán cà-phê.
Trong mệnh đề phức hợp này gồm hai câu đơn giản thể hiện những hành động nối tiếp nhau. Mệnh đề phức hợp như vậy có thể chia được thành hai câu đơn giản riêng biệt.
Я УСПЕШНО СДАЛ ЭКЗАМЕН. Tôi đã trả thi thành công.
И МЫ С ДРУГОМ ПОШЛИ В КАФЕ. Và chúng tôi cùng người bạn đi đến quán cà-phê.
Hoặc là phương án mệnh đề phức hợp như sau:
Я ЛЮБЛЮ ВЬЕТНАМСКИЕ БЛИНЧИКИ, НО КАРТОШКА С МЯСОМ МНЕ НРАВИТСЯ БОЛЬШЕ. Tôi thích món nem Việt Nam, nhưng món khoai tây với thịt thì tôi còn thích hơn.
Trong câu phức hợp này, ý nghĩa của một câu đơn giản trái ngược với ý nghĩa của câu khác. Nhưng cũng có thể dễ dàng tách ra thành hai câu riêng độc lập.
Я ЛЮБЛЮ ВЬЕТНАМСКИЕ БЛИНЧИКИ. Tôi thích món nem Việt Nam.
НО КАРТОШКА С МЯСОМ МНЕ НРАВИТСЯ БОЛЬШЕ. Nhưng món khoai tây với thịt thì tôi còn thích hơn.
 Loại thứ hai của câu phức hợp bằng tiếng Nga là khi một phần phụ thuộc vào phần khác, và không thể tách rời thành những mệnh đề đơn lẻ. Thí dụ:
КОГДА АНТОН ПРИЕХАЛ ИЗ ПЕТЕРБУРГА, ОН ВСТРЕТИЛСЯ СО ВСЕМИ СВОИМИ ДРУЗЬЯМИ.
Khi Anton đến từ Peterburg, anh ấy đã gặp gỡ với tất cả các bạn bè của mình.
Ở đây một phần mệnh đề chỉ hành động đã được thực hiện xong, còn phần kia chỉ mốc thời gian ngữ cảnh.
Когда Антон встретился со всеми своими друзьями? Когда он приехал из Петербурга.
Khi nào Anton gặp gỡ với tất cả các bạn bè của mình? Khi anh ấy đến từ Peterburg.
Phần mệnh đề cho thấy hành động của đối tượng được gọi là chính, còn phần mệnh đề thể hiện thời gian thực hiện hành động này được xem là mệnh đề phụ.
Xin thêm một thí dụ mệnh đề phức hợp với phần phụ chỉ thời gian.
КОГДА АННА ГОТОВИТ ОБЕД, ОНА ВСЕГДА СЛУШАЕТ РАДИО.
Khi Anna chuẩn bị bữa ăn trưa, chị ấy luôn nghe radio.
Ở đây, phần chính là ОНА ВСЕГДА СЛУШАЕТ РАДИО.
Còn phần phụ trong mệnh đề phức hợp là КОГДА АННА ГОТОВИТ ОБЕД
Phần phụ chỉ thời gian bắt đầu với từ КОГДА và không thể dùng tách riêng độc lập khỏi phần chính.
Có thí dụ ngắn gọn về mệnh đề với phần phụ chỉ thời gian, là ngạn ngữ mà bậc phụ huynh người Nga thường nói với các con trong bữa ăn.
КОГДА Я ЕМ, Я ГЛУХ И НЕМ. Khi tôi ăn, tôi điếc và câm.
Chắc các bạn cũng thấy ở đây cả qui tắc văn minh – khi đang ăn thì không nói chuyện, cũng như lối chơi chữ để có vần điệu. Có lẽ các bạn dễ dàng xác định được đâu là phần chính, còn đâu là phần phụ trong mệnh đề phức hợp này.
Thêm một loại mệnh đề phức hợp với phần phụ chỉ khoảng thời gian.
АНТОН НЕ ПРИШЕЛ НА ЛЕКЦИЮ, ПОТОМУ ЧТО ОН ПЛОХО СЕБЯ ЧУВСТВОВАЛ.
Anton không đến lớp, vì anh ấy cảm thấy người không khỏe, mệt, ốm.
Ở đây, phần chính là АНТОН НЕ ПРИШЕЛ НА ЛЕКЦИЮ.
Còn phần phụ là ПОТОМУ ЧТО ОН ПЛОХО СЕБЯ ЧУВСТВОВАЛ.
Phần phụ giải thích nguyên nhân thực hiện hành động trong phần chính, vì thế dạng mệnh đề này còn được gọi là mệnh đề quan hệ nhân quả.
Почему Антон не пришел на лекцию? Потому что он плохо себя чувствовал.
Tại sao Anton không đến lớp? Vì anh ấy cảm thấy người không khỏe, mệt, ốm.
Thêm thí dụ khác về câu phức hợp với phần phụ chỉ nguyên nhân hành động.
ЗУНГ КУПИЛ СЕБЕ ТЕПЛУЮ КУРТКУ И ШАПКУ, ПОТОМУ ЧТО ЗИМОЙ В МОСКВЕ ОЧЕНЬ ХОЛОДНО.
Dũng đã sắm cho mình chiếc áo bông ấm và mũ, vì mùa đông ở Matxcơva rất lạnh.
Почему Зунг купил себе теплую куртку и шапку? Потому что зимой в Москве очень холодно.
Tại sao Dũng đã sắm cho mình áo bông ấm và mũ? Vì rằng mùa đông ở Matxcơva rất lạnh.
Phần phụ trong mệnh đề phức hợp này bắt đầu với từ ПОТОМУ ЧТО và không thể dùng khi tách riêng độc lập khỏi phần chính.
Vẫn còn một dạng mệnh đề phức hợp nữa – đó là với phần phụ chỉ điều kiện.
ЕСЛИ ЗАВТРА БУДЕТ ХОРОШАЯ ПОГОДА, МЫ ПОЕДЕМ НА РЕКУ КУПАТЬСЯ. Nếu ngày mai thời tiết tốt, chúng ta sẽ ra sông tắm.
Phần mệnh đề phụ chỉ điều kiện, có thể diễn ra hành động trong phần chính.
При каком условии мы поедем на реку купаться? Если завтра будет хорошая погода.
Với điều kiện nào chúng ta sẽ ra sông tắm? Nếu ngày mai thời tiết tốt.
Thêm một thí dụ nữa về mệnh đề phức hợp có phần phụ điều kiện:
ЕСЛИ ТЫ НЕ БУДЕШЬ МНОГО ЗАНИМАТЬСЯ, ТЫ НЕ СДАШЬ ХОРОШО ЭКЗАМЕНЫ. Nếu cậu không học kỹ, cậu sẽ không trả thi tốt được.
Ở đây phần mệnh đề chính là ТЫ НЕ СДАШЬ ХОРОШО ЭКЗАМЕНЫ.
Còn phần phụ chỉ điều kiện là ЕСЛИ ТЫ НЕ БУДЕШЬ МНОГО ЗАНИМАТЬСЯ.
Phần mệnh đề phụ chứa điều kiện bắt đầu với từ ЕСЛИ và không thể dùng khi tách riêng độc lập khỏi phần chính.
Các bạn thân mến, chủ đề câu phức hợp trong tiếng Nga sẽ được tiếp nối trong bài sau. Các bạn hãy tập luyện bằng cách đặt ra các câu phức hợp có phần phụ chỉ thời gian, nguyên nhân và điều kiện.
Bài tham khảo trên trang web của Đài "Tiếng nói nước Nga" sẽ giúp các bạn trong việc luyện tập này. Xin chúc thành công!